::Cheese::
29-09-2008, 22:12
Profile:
Avril Lavigne Whibley (27-09-1984) được biết đến nhiều hơn với cái tên Avril Lavigne, là một nữ nghệ sĩ người Canada từng được đề cử 8 giải Grammy. Năm 2006 cô được tạp chí Canadian Business xếp ở vị trí thứ 7 trong top 10 người Canada quyền lực nhất Hollywood.
Năm 2002 Lavigne phát hành album đầu tay mang tên Let Go, đĩa nhạc này đã bán được 16 triệu bản và được hiệp hội ghi âm Hoa Kì 6 lần công nhận đĩa bạch kim. Hai album tiếp theo của Avril là: Under My Skin (2004) bán được 9 triệu bản và The Best Damn Thing (2007) hiện tại đã bán được 5 triệu bản. Cả hai đĩa nhạc này đều dành được vị trí quán quân trên bảng xếp hạng album US Billboard 200 của Hoa Kỳ. Lavigne đã phát hành tổng cộng 11 đĩa đơn, trong đó có 5 ca khúc rất thành công là: ”Complicated”, ”Sk8er Boi”, ”I'm With You”, ”My Happy Ending” và đặc biệt là "Girlfriend", ca khúc đã từng đứng đầu trên bảng xếp hạng US Billboard Hot 100. Cuối năm 2007, Lavigne đã được kênh truyền hình VH1 xếp vào top 50 nữ nghệ sĩ sản xuất video ấn tượng nhất mọi thời đại. Với thu nhập 12 triệu đôla trong năm 2007 Lavigne đứng ở vị trí thứ 7 trong Top 20 nghệ sĩ dưới 25 tuổi kếm được nhiều tiền tất. Tính đến thời điểm hiện tại Avril đã bán được 30 triệu album trên toàn thế giới.
----------------------
Albums:
Album Let Go (2002)
Let Go xuất hiện ở Hoa Kì vào ngày 4 tháng 6 năm 2002 và chiếm giữ vị trí thứ 2 trên US Billboard Hot 200 Album, vị trí quán quân trên các bảng xếp hạng album ở Australia, Canada và UK. Ở tuổi 17, Avril trở thành nữ nghệ sĩ trẻ tuổi nhất có album đứng đầu trên bảng xếp hạng album ở UK tính vào thời điểm đó. Let Go là một album pop/rock trong đó có những ca khúc mang âm hưởng rõ rệt của alternative rock. Sau sáu tháng xuất hiện "Let Go" đã được hiệp hội ghi âm Hoa Kì RIAA bốn lần công nhận đã bạch kim. Cuối năm 2002 với hơn 7,5 triệu album bán được Avril trở thành nữ nghệ sĩ có album bán chạy nhất năm. Tính đến tháng 12 năm 2007 ”Let Go” đã tiêu thụ được 6,60 triệu bản ở Hoa Kì và hơn 16 triệu bản trên toàn thế giới.
Abum Let Go có tổng cộng 4 đĩa đơn. Đĩa đơn đầu tiên là ”Complicated”, từng chiếm giữ vị trí quán quân trên bảng xếp hạng đĩa đơn ở Australia và á quân trên US Billboard Hot 100, đây cũng là một trong những ca khúc bán chạy nhất ở Canada trong năm 2002. Hai đĩa đơn tiếp theo là ”Sk8er Boi” lọt vào Top 10 ở Hoa Kì , Australia và ”I'm With You” lọt vào Top 5 ở Hoa kì và top 10 ở UK. Đĩa đơn thứ tư là ”Losing Grip” dành được vị trí quán quân ở Đài Loan và top 10 ở Chile.
Những thành công từ album đầu tay đã mang lại cho Avril danh hiệu nữ nghệ sĩ trẻ tài năng nhất trong lễ trao giải MTV Video Music Awards năm 2002 cùng với 8 đề cử Grammy và danh hiệu nghệ sĩ pop/rock xuất sắc của giải thưởng World Music Awards. Album này cũng lọt vào top 100 album bán chạy nhất mọi thời đại do website Mediatraffic.de thống kê.
Album Under My Skin (2004)
Album thứ hai của Avril mang tên Under My Skin, được phát hành vào ngày 25 tháng 5 năm 2004 và nhanh chóng chiếm giữ vị trí quán quân trên các bảng xếp hạng ở Hoa Kì, UK, Nhật Bản, Đức, Australia, Canada, Mexico, Thụy Điển, Ailen, Thái Lan, Hàn Quốc và Hồng Công. Album đã bán được 380.000 bản ngay trong tuần đầu phát hành tại Hoa Kì. phần lớn các ca khúc trong album đều là những sáng tác hoặc đồng sáng tác của Avril cùng với nhạc sĩ người Canada Chatal Kreviazuk.. ”Under My Skin” mang đậm chất alternative với nhiều ca khúc mạnh mẽ và sâu lắng đã tạo nên một phong cách hoàn toàn mới mẽ trong âm nhạc của Avril.. Đĩa đơn đầu tiên trong album là ”Don't Tell Me”, dành quán quân ở Argentina, Mexico và lọt vào top 5 ở UK, Canada, top 10 ở Australia, Brazil. ”My Happy Ending” là đĩa đơn thứ hai, single này một lần nữa dành quán quân ở Mexico và lọt cào top 10 trên US Billboard Hot 100. Đĩa đơn thứ ba là ”Nobody's Home”, mặc dù không lọt vào top 40 ở Mĩ nhưng single này lại rất thành công ở Mexico và Argentina . ”He Wasn't” là đĩa đơn thứ tư, single này lọt vào top 30 ở UK và Australia nhưng không được phát hành ở Hoa Kì. ”Fall To Pieces” là đĩa đơn cuối cùng trong album tuy nhiên nó không được thành công như những single đã phát hành trước đó. Tính đến cuối năm 2007 album ”Under My Skin” đã bán được hơn 9 triệu bản trên toàn thế giới.
Với những thành công từ ”Under My Skin”, Avril đã dành chiến thắng trong lễ trao giải World Music Awards 2004 cho hạng mục nghệ sĩ pop/rock xuất sắc nhất và nghệ sĩ Canada có album bán chạy nhất. Trong năm 2005, Avril đã dành chiến thắng ở 3 trong số 5 để cử của giải thưởng âm nhạc Canada Juno Awards cùng với giả thưởng nữ nghệ sĩ được yêu thích nhất trong lễ trao giải Nickelodeon Kid's Choice. Cũng trong năm này, Avril đã thực hiện một số chuyến lưu diễn nhỏ ở một vài quốc gia trên thế giới. Năm 2006 Lavigne được chọn làm gương mặt đại diện cho Canada tham gia vào lễ bế mạc Thế Vận Hội Mùa Đông 2006 ở Turin, Italy.
Album The Best Damn Thing (2007)
The Best Damn Thing là album thứ ba trong sự nghiệp ca hát của Avril. Album này được phát hành vào ngày 17 tháng 4 năm 2007 và dành quán quân 2 tuần liên tục trên bảng xếp hạng US Billboard Hot 200 của Hoa Kì. Album này được sản xuất bởi Dr.Luke, Lavigne và chồng cô: Deryck Whibley, nhóm trưởng của ban nhạc rock Sum 41. "The Best Damn Thing" là một album punk-pop với nhiều ca khúc mùa hè sôi động, "Girlfriend" là đĩa đơn đầu tiên trong album, single này đã giúp cho Avril lần đầu tiên dành được vị trí quán quân trên US Billboard Hot 100, và đây đĩa cũng được xem là đĩa đơn thành công nhất trong sự nghiệp của Avril nếu xét về mặt thương mại. "When You're Gone" được chọn làm làm đĩa đơn thứ hai, mặc dù ca khúc này chỉ có thể lọt vào top 25 ở Hoa Kì nhưng rất thành công ở châu Âu, Châu Á, Australia và Canada. Đĩa đơn thứ ba mang tên "Hot", single này đã lọt vào top 10 ở Canada, Chile và Argentina. Đĩa đơn cuối cùng trong album là “The Best Damn Thing”, được phát hành vào đầu tháng 6 năm 2008. Tính đến cuối tháng 5 năm 2008 album đã bán được hơn 5 triệu bản ở trên toàn thế giới.
--------------------------
Phong Cách Âm Nhạc
Trên trang thông tin MySpace của mình, Avril khẳng định rằng thể loại âm nhạc của cô ấy là Pop/Punk/Rock. Nhưng tạp chí All Music Guide và một số nhà phê bình khác cho rằng phong cách âm nhạc của cô ấy là: "Punk, Punk-pop, Pop/Rock, Alternative Rock, Alternative Pop-Rock, Modern Rock và Post-Grunge". Tuy nhiên Avril thường phát biểu rằng cô không phải là một ca sĩ hát nhạc Punk và cô cũng không muốn bị ràng buộc như vậy. Lavigne đã tỏ thái độ tức giận khi có người xem cô như một "Sk8er Punk". Quê hương của Avril là nơi khởi nguồn của nhiều ban nhóm hát nhạc punk (chẳng hạn như Sid Vicious), nhưng âm nhạc của cô ấy chỉ chịu ảnh hưởng một phần của thể loại punk năm 1970.
---------------------------
Các giải thưởng
2002
1. MTV VMA's : nghệ sĩ mới xuất sắc nhất (Complicated).
2. MTV Latin America VMA's: nghệ sĩ mới xuất sắc.
3. World Music Awards: Nghệ sĩ Canada xuất sắc và nghệ sĩ Pop/rock.
2003
1. ECHO Awards: nghệ sĩ mới xuất sắc
2. Ivor Novello Awards: Ca khúc của năm (Complicated)
3. Juno Awards: Album của năm (Let Go), album nhạc pop của năm (Let Go), nghệ sĩ mới, ca khúc của năm (Complicated)
4. MTV Latin America VMA's: Nghệ sĩ nhạc pop xuất sắc.
5. MTV Asia Awards: Nữ nghệ sĩ được yêu thích nhất, Nghệ sĩ có bước đột phá, giải phong cách.
6. Nickelodeon Kids' Choice Awards: Ca khúc được yêu thích nhất (Sk8er Boi), nữ nghệ sĩ được yêu thích nhất.
7. Radio Music Awards: Ca khúc hay nhất (Complicated).
8. TMF Awards: Nghệ sĩ rock xuất sắc.
9. World Music Awards: Nghệ sĩ Canada xuất sắc và nghệ sĩ Pop/rock.
2004
1. Comet Music Awards: Nghệ sĩ quốc tế xuất sắc.
2. Common Sense Media Award: Nghệ sĩ quốc tế xuất sắc.
3. MTV Latin America VMA's: Nghệ sĩ nhạc pop xuất sắc.
4. MuchMusic Video Awards: Video xuất sắc, Sự lựa chọn của khán giả.
5. World Music Awards: Nghệ sĩ Canada xuất sắc và nghệ sĩ Pop/rock.
2005
1. Juno Awards: Nghệ sĩ của năm, album nhạc pop hay nhất, sự lựa chọn của khán giả
2. MTV Asia Awards: Nữ nghệ sĩ được yêu thích nhất.
3. NRJ Music Awards: Nghệ sĩ quốc tế xuất sắc.
2006
1. Italian TRL Awards: First Lady
Lavigne tại giải MuchMusic Video Awards 2007
Lavigne tại giải MuchMusic Video Awards 2007
2007
1. MTV Latin America VMA's: Nghệ sĩ nhạc pop xuất sắc, ca khúc của năm (Girlfriend)
2. MTV Russian Music Awards: Nghệ sĩ quốc tế xuất sắc.
3. MuchMusic Video Awards: Video xuất sắc, Sự lựa chọn của khán giả.
4. Teen Choice Awards: Đĩa đơn được yêu thích nhất (Girlfriend).
5. Nickelodeon Kids' Choice Awards: Ca khúc được yêu thích nhất (Girlfriend), nữ nghệ sĩ được yêu thích nhất.
6. MTV Europe Music Awards: Nghệ sĩ của năm, Ca khúc yêu thích (Girlfriend).
7. World Music Awards: Nghệ sĩ Canada xuất sắc và nghệ sĩ Pop/rock.
Source: http://vi.wikipedia.org/wiki/Avril_Lavigne
----------------------
Một số Hits của Avril nha:
http://www.nhaccuatui.com/m/kB2wI0GRLl
Complicated - Let go
http://www.nhaccuatui.com/m/498i2nEzVC
I'm With You - Let go
http://www.nhaccuatui.com/m/t59fija7JO
My Happy Ending - Under My Skin
http://www.nhaccuatui.com/m/Y4SPvAB5-S
Girlfriend - The Best Damn Thing
http://www.nhaccuatui.com/m/oBpnzzJJzu
The Best Damn Thing - The Best Damn Thing
Avril là 1 trong 2 nữ ca sĩ iu thik nhất nhất US-UK của Cheese áh :75: (người thứ 2 là Brit)
Avril Lavigne Whibley (27-09-1984) được biết đến nhiều hơn với cái tên Avril Lavigne, là một nữ nghệ sĩ người Canada từng được đề cử 8 giải Grammy. Năm 2006 cô được tạp chí Canadian Business xếp ở vị trí thứ 7 trong top 10 người Canada quyền lực nhất Hollywood.
Năm 2002 Lavigne phát hành album đầu tay mang tên Let Go, đĩa nhạc này đã bán được 16 triệu bản và được hiệp hội ghi âm Hoa Kì 6 lần công nhận đĩa bạch kim. Hai album tiếp theo của Avril là: Under My Skin (2004) bán được 9 triệu bản và The Best Damn Thing (2007) hiện tại đã bán được 5 triệu bản. Cả hai đĩa nhạc này đều dành được vị trí quán quân trên bảng xếp hạng album US Billboard 200 của Hoa Kỳ. Lavigne đã phát hành tổng cộng 11 đĩa đơn, trong đó có 5 ca khúc rất thành công là: ”Complicated”, ”Sk8er Boi”, ”I'm With You”, ”My Happy Ending” và đặc biệt là "Girlfriend", ca khúc đã từng đứng đầu trên bảng xếp hạng US Billboard Hot 100. Cuối năm 2007, Lavigne đã được kênh truyền hình VH1 xếp vào top 50 nữ nghệ sĩ sản xuất video ấn tượng nhất mọi thời đại. Với thu nhập 12 triệu đôla trong năm 2007 Lavigne đứng ở vị trí thứ 7 trong Top 20 nghệ sĩ dưới 25 tuổi kếm được nhiều tiền tất. Tính đến thời điểm hiện tại Avril đã bán được 30 triệu album trên toàn thế giới.
----------------------
Albums:
Album Let Go (2002)
Let Go xuất hiện ở Hoa Kì vào ngày 4 tháng 6 năm 2002 và chiếm giữ vị trí thứ 2 trên US Billboard Hot 200 Album, vị trí quán quân trên các bảng xếp hạng album ở Australia, Canada và UK. Ở tuổi 17, Avril trở thành nữ nghệ sĩ trẻ tuổi nhất có album đứng đầu trên bảng xếp hạng album ở UK tính vào thời điểm đó. Let Go là một album pop/rock trong đó có những ca khúc mang âm hưởng rõ rệt của alternative rock. Sau sáu tháng xuất hiện "Let Go" đã được hiệp hội ghi âm Hoa Kì RIAA bốn lần công nhận đã bạch kim. Cuối năm 2002 với hơn 7,5 triệu album bán được Avril trở thành nữ nghệ sĩ có album bán chạy nhất năm. Tính đến tháng 12 năm 2007 ”Let Go” đã tiêu thụ được 6,60 triệu bản ở Hoa Kì và hơn 16 triệu bản trên toàn thế giới.
Abum Let Go có tổng cộng 4 đĩa đơn. Đĩa đơn đầu tiên là ”Complicated”, từng chiếm giữ vị trí quán quân trên bảng xếp hạng đĩa đơn ở Australia và á quân trên US Billboard Hot 100, đây cũng là một trong những ca khúc bán chạy nhất ở Canada trong năm 2002. Hai đĩa đơn tiếp theo là ”Sk8er Boi” lọt vào Top 10 ở Hoa Kì , Australia và ”I'm With You” lọt vào Top 5 ở Hoa kì và top 10 ở UK. Đĩa đơn thứ tư là ”Losing Grip” dành được vị trí quán quân ở Đài Loan và top 10 ở Chile.
Những thành công từ album đầu tay đã mang lại cho Avril danh hiệu nữ nghệ sĩ trẻ tài năng nhất trong lễ trao giải MTV Video Music Awards năm 2002 cùng với 8 đề cử Grammy và danh hiệu nghệ sĩ pop/rock xuất sắc của giải thưởng World Music Awards. Album này cũng lọt vào top 100 album bán chạy nhất mọi thời đại do website Mediatraffic.de thống kê.
Album Under My Skin (2004)
Album thứ hai của Avril mang tên Under My Skin, được phát hành vào ngày 25 tháng 5 năm 2004 và nhanh chóng chiếm giữ vị trí quán quân trên các bảng xếp hạng ở Hoa Kì, UK, Nhật Bản, Đức, Australia, Canada, Mexico, Thụy Điển, Ailen, Thái Lan, Hàn Quốc và Hồng Công. Album đã bán được 380.000 bản ngay trong tuần đầu phát hành tại Hoa Kì. phần lớn các ca khúc trong album đều là những sáng tác hoặc đồng sáng tác của Avril cùng với nhạc sĩ người Canada Chatal Kreviazuk.. ”Under My Skin” mang đậm chất alternative với nhiều ca khúc mạnh mẽ và sâu lắng đã tạo nên một phong cách hoàn toàn mới mẽ trong âm nhạc của Avril.. Đĩa đơn đầu tiên trong album là ”Don't Tell Me”, dành quán quân ở Argentina, Mexico và lọt vào top 5 ở UK, Canada, top 10 ở Australia, Brazil. ”My Happy Ending” là đĩa đơn thứ hai, single này một lần nữa dành quán quân ở Mexico và lọt cào top 10 trên US Billboard Hot 100. Đĩa đơn thứ ba là ”Nobody's Home”, mặc dù không lọt vào top 40 ở Mĩ nhưng single này lại rất thành công ở Mexico và Argentina . ”He Wasn't” là đĩa đơn thứ tư, single này lọt vào top 30 ở UK và Australia nhưng không được phát hành ở Hoa Kì. ”Fall To Pieces” là đĩa đơn cuối cùng trong album tuy nhiên nó không được thành công như những single đã phát hành trước đó. Tính đến cuối năm 2007 album ”Under My Skin” đã bán được hơn 9 triệu bản trên toàn thế giới.
Với những thành công từ ”Under My Skin”, Avril đã dành chiến thắng trong lễ trao giải World Music Awards 2004 cho hạng mục nghệ sĩ pop/rock xuất sắc nhất và nghệ sĩ Canada có album bán chạy nhất. Trong năm 2005, Avril đã dành chiến thắng ở 3 trong số 5 để cử của giải thưởng âm nhạc Canada Juno Awards cùng với giả thưởng nữ nghệ sĩ được yêu thích nhất trong lễ trao giải Nickelodeon Kid's Choice. Cũng trong năm này, Avril đã thực hiện một số chuyến lưu diễn nhỏ ở một vài quốc gia trên thế giới. Năm 2006 Lavigne được chọn làm gương mặt đại diện cho Canada tham gia vào lễ bế mạc Thế Vận Hội Mùa Đông 2006 ở Turin, Italy.
Album The Best Damn Thing (2007)
The Best Damn Thing là album thứ ba trong sự nghiệp ca hát của Avril. Album này được phát hành vào ngày 17 tháng 4 năm 2007 và dành quán quân 2 tuần liên tục trên bảng xếp hạng US Billboard Hot 200 của Hoa Kì. Album này được sản xuất bởi Dr.Luke, Lavigne và chồng cô: Deryck Whibley, nhóm trưởng của ban nhạc rock Sum 41. "The Best Damn Thing" là một album punk-pop với nhiều ca khúc mùa hè sôi động, "Girlfriend" là đĩa đơn đầu tiên trong album, single này đã giúp cho Avril lần đầu tiên dành được vị trí quán quân trên US Billboard Hot 100, và đây đĩa cũng được xem là đĩa đơn thành công nhất trong sự nghiệp của Avril nếu xét về mặt thương mại. "When You're Gone" được chọn làm làm đĩa đơn thứ hai, mặc dù ca khúc này chỉ có thể lọt vào top 25 ở Hoa Kì nhưng rất thành công ở châu Âu, Châu Á, Australia và Canada. Đĩa đơn thứ ba mang tên "Hot", single này đã lọt vào top 10 ở Canada, Chile và Argentina. Đĩa đơn cuối cùng trong album là “The Best Damn Thing”, được phát hành vào đầu tháng 6 năm 2008. Tính đến cuối tháng 5 năm 2008 album đã bán được hơn 5 triệu bản ở trên toàn thế giới.
--------------------------
Phong Cách Âm Nhạc
Trên trang thông tin MySpace của mình, Avril khẳng định rằng thể loại âm nhạc của cô ấy là Pop/Punk/Rock. Nhưng tạp chí All Music Guide và một số nhà phê bình khác cho rằng phong cách âm nhạc của cô ấy là: "Punk, Punk-pop, Pop/Rock, Alternative Rock, Alternative Pop-Rock, Modern Rock và Post-Grunge". Tuy nhiên Avril thường phát biểu rằng cô không phải là một ca sĩ hát nhạc Punk và cô cũng không muốn bị ràng buộc như vậy. Lavigne đã tỏ thái độ tức giận khi có người xem cô như một "Sk8er Punk". Quê hương của Avril là nơi khởi nguồn của nhiều ban nhóm hát nhạc punk (chẳng hạn như Sid Vicious), nhưng âm nhạc của cô ấy chỉ chịu ảnh hưởng một phần của thể loại punk năm 1970.
---------------------------
Các giải thưởng
2002
1. MTV VMA's : nghệ sĩ mới xuất sắc nhất (Complicated).
2. MTV Latin America VMA's: nghệ sĩ mới xuất sắc.
3. World Music Awards: Nghệ sĩ Canada xuất sắc và nghệ sĩ Pop/rock.
2003
1. ECHO Awards: nghệ sĩ mới xuất sắc
2. Ivor Novello Awards: Ca khúc của năm (Complicated)
3. Juno Awards: Album của năm (Let Go), album nhạc pop của năm (Let Go), nghệ sĩ mới, ca khúc của năm (Complicated)
4. MTV Latin America VMA's: Nghệ sĩ nhạc pop xuất sắc.
5. MTV Asia Awards: Nữ nghệ sĩ được yêu thích nhất, Nghệ sĩ có bước đột phá, giải phong cách.
6. Nickelodeon Kids' Choice Awards: Ca khúc được yêu thích nhất (Sk8er Boi), nữ nghệ sĩ được yêu thích nhất.
7. Radio Music Awards: Ca khúc hay nhất (Complicated).
8. TMF Awards: Nghệ sĩ rock xuất sắc.
9. World Music Awards: Nghệ sĩ Canada xuất sắc và nghệ sĩ Pop/rock.
2004
1. Comet Music Awards: Nghệ sĩ quốc tế xuất sắc.
2. Common Sense Media Award: Nghệ sĩ quốc tế xuất sắc.
3. MTV Latin America VMA's: Nghệ sĩ nhạc pop xuất sắc.
4. MuchMusic Video Awards: Video xuất sắc, Sự lựa chọn của khán giả.
5. World Music Awards: Nghệ sĩ Canada xuất sắc và nghệ sĩ Pop/rock.
2005
1. Juno Awards: Nghệ sĩ của năm, album nhạc pop hay nhất, sự lựa chọn của khán giả
2. MTV Asia Awards: Nữ nghệ sĩ được yêu thích nhất.
3. NRJ Music Awards: Nghệ sĩ quốc tế xuất sắc.
2006
1. Italian TRL Awards: First Lady
Lavigne tại giải MuchMusic Video Awards 2007
Lavigne tại giải MuchMusic Video Awards 2007
2007
1. MTV Latin America VMA's: Nghệ sĩ nhạc pop xuất sắc, ca khúc của năm (Girlfriend)
2. MTV Russian Music Awards: Nghệ sĩ quốc tế xuất sắc.
3. MuchMusic Video Awards: Video xuất sắc, Sự lựa chọn của khán giả.
4. Teen Choice Awards: Đĩa đơn được yêu thích nhất (Girlfriend).
5. Nickelodeon Kids' Choice Awards: Ca khúc được yêu thích nhất (Girlfriend), nữ nghệ sĩ được yêu thích nhất.
6. MTV Europe Music Awards: Nghệ sĩ của năm, Ca khúc yêu thích (Girlfriend).
7. World Music Awards: Nghệ sĩ Canada xuất sắc và nghệ sĩ Pop/rock.
Source: http://vi.wikipedia.org/wiki/Avril_Lavigne
----------------------
Một số Hits của Avril nha:
http://www.nhaccuatui.com/m/kB2wI0GRLl
Complicated - Let go
http://www.nhaccuatui.com/m/498i2nEzVC
I'm With You - Let go
http://www.nhaccuatui.com/m/t59fija7JO
My Happy Ending - Under My Skin
http://www.nhaccuatui.com/m/Y4SPvAB5-S
Girlfriend - The Best Damn Thing
http://www.nhaccuatui.com/m/oBpnzzJJzu
The Best Damn Thing - The Best Damn Thing
Avril là 1 trong 2 nữ ca sĩ iu thik nhất nhất US-UK của Cheese áh :75: (người thứ 2 là Brit)